|
http://www.thesaigontimes.vn/161395/De-giai-quyet-dut-diem-no-xau.html
|
Vấn đề
nợ xấu đã trở thành tâm điểm của kỳ họp Quốc hội hiện đang diễn ra, tập trung
vào nội dung của một nghị quyết liên quan đến giải quyết nợ xấu. Tuy đã có rất
nhiều ý kiến góp ý và kiến nghị cho nghị quyết này nhưng có một số điểm mấu chốt
chưa được đề cập đến (một cách thấu đáo).
Chủ
trương không dùng ngân sách xử lý nợ xấu cần ngoại
lệ
Dường
như các đại biểu Quốc hội đã khá thống nhất với chủ trương không dùng ngân sách
để xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, nếu xét trên nguyên tắc lỗi do ai tạo ra người đó
phải chịu trách nhiệm thì cần phải xem xét thấu đáo và quy trách nhiệm sòng
phẳng đối với các cơ quan hữu trách cho nhiều khoản nợ xấu phát sinh và tích tụ
bấy lâu nay.
Có lẽ
không mấy người nhớ đến Văn bản 5342/NHNN/TTGSNH ban hành ngày 24-7-2014 của
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) gửi các tổ chức tín dụng (TCTD) yêu cầu đẩy mạnh việc
cho vay vốn ra thị trường, đặc biệt đối với khách hàng không có tài sản bảo đảm
(vay tín chấp). Đây chỉ là một ví dụ cho thấy việc “hưởng ứng” hoặc tuân thủ chỉ
đạo của các cơ quan quản lý hữu quan có thể đã gây ra những thiệt hại lớn cho
các ngân hàng thương mại (NHTM). Nếu việc đẩy mạnh cho vay đã diễn ra và một
phần trong số dư nợ cho vay theo chỉ đạo này biến thành nợ xấu mà không có tài
sản bảo đảm thì các NHTM chỉ còn nước “bắc thang lên hỏi ông
trời”.
Với
những khoản nợ xấu kiểu này cùng với những khoản nợ xấu tương tự phát sinh bởi
sự can thiệp và chỉ định của các cơ quan chức năng và quan chức nhà nước (như
cho vay trong các chương trình lẫn chiến lược) thì một vài nghị quyết xử lý nợ
xấu của Quốc hội như hiện nay cũng chẳng thể làm gì khác được. Đống nợ này sẽ
còn “treo” mãi đó trong sổ sách kế toán của các NHTM hoặc của Công ty Quản lý
tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC), trừ khi các cơ quan liên đới đứng ra nhận
(hoặc bị quy rõ) trách nhiệm và phải có biện pháp khắc phục kèm theo đó như xóa
nợ, hoặc dùng ngân sách hay tài sản cá nhân của người ra quyết định chỉ đạo cho
vay để trả nợ thay cho người vay, tương tự như với những vụ việc tòa án kết tội
oan cho công dân vừa qua.
Công
khai nợ xấu là cần thiết, nhưng những ai phải công khai và đến
đâu?
Có một
vài người đã kiến nghị rất xác đáng về sự cần thiết phải công khai nợ xấu. Đây
là điều cần thiết vì muốn trị bệnh thì trước tiên phải hiểu mức độ trầm trọng
của bệnh. Nhưng tiếc là những kiến nghị kiểu này mới chỉ đề cập đến trách nhiệm
(và cơ chế khuyến khích) các NHTM không che giấu nợ xấu mà không đề cập đến
trách nhiệm của cơ quan quản lý hữu trách, mà cụ thể ở đây là
NHNN.
Xin lấy
một ví dụ minh họa. Dù vụ việc xảy ra đã lâu và hiện nay đã trở thành đại diện
chủ sở hữu của các ngân hàng mua lại bắt buộc nhưng NHNN chưa bao giờ công bố
(đầy đủ) tình trạng nợ xấu của các ngân hàng này. Thậm chí, trong các thống kê
công bố trên trang web của NHNN về tình hình hoạt động của hệ thống tín dụng
(tính đến tháng 12-2016), số liệu tài chính của các ngân hàng này cũng bị loại
trừ và không ai biết được lúc nào thì bức tranh thật sự về tình hình sức khỏe
của các ngân hàng này mới được công bố.
Trên bề
mặt thì là nguyên nhân khách quan, nhưng suy cho cùng phần nhiều do chủ
quan.
Ngoại
trừ những yếu tố khách quan thực sự, gồm có sự cho vay theo chỉ định, chỉ đạo
như nói ở trên, nợ xấu thường được tùy tiện đổ thừa do bất ổn chính trị, khủng
hoảng kinh tế, chính sách kinh tế vĩ mô thiếu ổn định... Thoạt nghe thì có lý,
nhưng xét cho cùng thì đều có một phần lỗi chủ quan của chính các NHTM cho vay.
Tại sao họ lại chọn ngành đó, lĩnh vực đó, doanh nghiệp đó, khách hàng cá nhân
đó, vào thời điểm đó, với số dư cho vay đó, bằng tài sản bảo đảm đó (hoặc không
có)... trong khi các NHTM khác không bị vướng phải hoặc vướng nhưng mức độ
nghiêm trọng không bằng? Vậy thì “tiên trách kỷ”, trước hết các ngân hàng nên
chủ động xử lý nợ xấu mà không nên, không thể đổ lỗi cho ai, không thể trông chờ
sự giúp đỡ của bất cứ ai mà có thể làm chậm lại quá trình xử lý nợ
xấu.
Ngược
lại, Nhà nước không nên coi những yếu tố “khách quan” này là lý do để có những
nhân nhượng, thỏa hiệp trong việc thúc đẩy các NHTM giải quyết nợ xấu. Mặt khác,
cũng chính từ phương diện “bất ổn khách quan” này, với tư cách là một điều kiện
cần để nợ xấu không một lần nữa trở thành “đại dịch” thì Nhà nước cần phải luôn
duy trì một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, có thể tiên lượng được, chứ không
chỉ tập trung vào việc ban hành và hoàn thiện các quy định pháp lý về xử lý nợ
xấu như hiện thời.
Thị
trường mua bán nợ thôi chưa đủ, cần thêm nhiều thành viên bình đẳng về tư
cách
Sự thiếu
vắng một thị trường mua bán nợ hiện tại được coi là một trong những nút thắt
chính trong công cuộc xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, điều nghịch lý là những dự thảo,
đề xuất hiện thời liên quan đến phát triển thị trường mua bán nợ dường như lại
không muốn mở rộng cửa thị trường này ra để đón tiếp các thành viên đầy tiềm
năng khác (với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ) gồm các tổ chức quản lý tài sản
(AMC) của các NHTM và nhà đầu tư nước ngoài, ngoài một số thành viên hạn chế như
VAMC, các NHTM và một số công ty kinh doanh liên đới.
Ngoài
ra, dù có nguồn lực tài chính (tiền tươi thóc thật) rất hạn chế nhưng VAMC đang
được (đề xuất) trao quá nhiều quyền hạn, thậm chí là đặc quyền “một mình một
chợ”, mặc dù thực sự thì các khoản nợ xấu mà họ nắm giữ không phải thuộc về họ
mà chỉ là “giữ hộ” cho các NHTM.
Không
cho phép nhập nhằng nợ xấu là cần thiết, nhưng có dám làm đến nơi đến
chốn?
Có đại
biểu Quốc hội đề nghị ngân hàng phải sớm có báo cáo cụ thể tên của các tổ chức,
cá nhân nào đang gây ra nợ xấu, để trên cơ sở đó Quốc hội sẽ xem xét, với chủ
trương “truy tận gốc, trốc tận ngọn”, không cho phép nhập nhằng nợ хấu. Điều này
là cần thiết để tránh tình trạng người/tổ chức gây ra nợ xấu lại không bị xử lý,
dẫn đến kỷ cương phép nước bị coi thường, tạo ra “vết xe đổ” cho những lần vi
phạm khác (của người/tổ chức khác).
Tuy
nhiên, trên thực tế, sẽ có hay không tình thế “dao sắc không gọt được chuôi”?
Bản thân các cơ quan quản lý và nhiều quan chức cấp cao là tác nhân (gián tiếp
và trực tiếp) của không ít khoản nợ xấu như đã nêu ví dụ ở trên và đã chứng kiến
trên thực tế. Nếu không xử lý vấn đề này rốt ráo thì khó tránh khỏi nợ xấu sẽ
tiếp tục phát sinh mạnh sau này, kể cả khi đã có nghị quyết và luật xử lý nợ
xấu.
Vẫn cần
khu biệt nợ xấu theo thời gian
Một số ý
kiến cho rằng nợ xấu phát sinh là vấn đề tất yếu, nợ xấu nào cũng là nợ xấu, vì
thế không nên giới hạn phạm vi xử lý nợ xấu (ví dụ từ ngày 31-12-2016 trở về
trước).
Tuy
nhiên, lập luận này không hoàn toàn đúng. Trước hết, nhận thức và hành động liên
quan đến nợ xấu hiện nay khác xa với trước đây, đặc biệt xét trong bối cảnh “u u
minh minh” trong những năm trước. Nhưng hiện nay và sau này, nếu các bên liên
đới vẫn không rút được bài học từ quá khứ, tiếp tục (cố tình) lập lại những sai
lầm làm phát sinh nợ xấu trong thời gian tới dù đã được vạch trần, cảnh báo, xử
lý rộng rãi như hiện nay thì chí ít những giải pháp xử lý mang tính “chữa cháy”
áp dụng cho những khoản nợ xấu trước đây sẽ không được phép tiếp tục áp dụng cho
những khoản nợ xấu tương tự phát sinh sau này. Nói cách khác, nợ xấu cũ vẫn có
thể khác nợ xấu mới!
Hãy lấy
ví dụ về chuyện cán bộ được NHNN phân công tham gia tái cơ cấu các ngân hàng yếu
kém trước đây, họ được ngầm định (và thực tế là vậy) miễn trách nhiệm nếu gây ra
hậu quả (gồm nợ xấu) trong quá trình tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu kém.
Nhưng dường như hiện nay đang có sự đồng thuận mới rằng sự miễn trách nhiệm này
chỉ xảy ra với một số điều kiện. Nếu điều này được luật hóa và cán bộ biệt phái
bởi NHNN vi phạm quy định này và gây ra nợ xấu thì (việc xử lý) khoản nợ xấu đó
phải được gắn liền với trách nhiệm của cá nhân và cơ quan quản lý cá nhân đó,
chứ không thể đổ lỗi chung chung hoặc cho NHTM yếu kém đang tái cơ cấu
được.
0 nhận xét: